Tag: viễn thông

Những thông tin cơ bản về ngành viễn thông (phần 1)

Hàng hóa và dịch vụ

Ngành viễn thông cung cấp dịch vụ điện thoại, dịch vụ truyền hình, Internet cũng như các dịch vụ khác. Cung cấp phương tiện liên lạc chính cho hầu hết các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân, các công ty viễn thông cung cấp một dịch vụ thiết yếu cho nền kinh tế của các quốc gia.

Các dịch vụ truyền thống bao gồm:

  • Điện thoại có dây
  • Truyền hình cáp

Các dịch vụ viễn thông mới:

  • Điện thoại di động
  • Internet
  • Truyền hình vệ tinh
  • Các dịch vụ khác

Tổ chức ngành

Tổ chức ngành viễn thông gồm 4 lĩnh vực chính: viễn thông có dây, viễn thông không dây, vệ tinh và những cơ sở viễn thông khác.

Lĩnh vực lớn nhất của ngành công nghiệp viễn thông tiếp tục được làm nên bởi những hãng viễn thông có dây. Các cơ sở trong lĩnh vực này chủ yếu cung cấp các dịch vụ viễn thông như điện thoại có dây (cố định), Internet đường dây thuê bao kỹ thuật số (DSL), truyền hình cáp và các dịch vụ Internet. Các tổ chức này định tuyến TV, thoại, Internet, dữ liệu và các nội dung khác qua mạng dây và cáp đồng thời kiểm soát quyền truy cập vào nội dung này. Họ có thể sở hữu và duy trì mạng, chia sẻ mạng với các tổ chức khác hoặc thuê dung lượng mạng từ các công ty khác.

Ngành viễn thông gồm 4 lĩnh vực chính

Tuy nhiên, các cơ sở trong ngành viễn thông không tạo ra nội dung được truyền qua mạng của họ, chẳng hạn như các chương trình truyền hình. (Các cơ sở tạo ra chương trình truyền hình được mô tả trong các phần trên ngành công nghiệp phát thanh truyền hình và phim ảnh và video ). Viễn thông hữu tuyến cũng bao gồm các nhà phân phối truyền hình vệ tinh trực tiếp đến gia đình và nhiều loại hình kinh doanh khác.

Các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông không dây cung cấp điện thoại, Internet, dữ liệu và các dịch vụ khác cho khách hàng thông qua việc truyền tín hiệu qua mạng của các tháp vô tuyến. Các tín hiệu được truyền qua một ăng-ten trực tiếp đến khách hàng những người sử dụng các thiết bị, chẳng hạn như điện thoại di động và máy tính di động, để nhận, giải thích và gửi thông tin.

Một thành phần lớn của phân khúc ngành này bao gồm các công ty cung cấp dịch vụ điện thoại di động, đã phát triển nhanh chóng trong thập kỷ qua. Thành phần khác đó là những cơ sở có cung cấp những loại dịch vụ Internet di động. Dịch vụ này dành cho các khách hàng sử dụng điện thoại di động và/hoặc máy tính có thể truy cập Internet.

Những công ty lớn trong lĩnh vực viễn thông

Các nhà lãnh đạo ngành hiện tại trên toàn thế giới có thể thay đổi theo từng năm. Việc xác định công ty nào là lớn nhất phụ thuộc vào việc người ta xem xét về tổng số doanh số bán hàng hay cả về giá trị vốn hóa thị trường. Tính đến năm 2018, năm công ty viễn thông hàng đầu được xếp hạng theo giá trị vốn hóa thị trường như sau:

Verizon (VZ), cung cấp các dịch vụ không dây và hữu tuyến, ngoài các dịch vụ băng thông rộng và thông tin, có giá trị vốn hóa thị trường hiện tại khoảng 200 tỷ USD. Verizon vẫn hấp dẫn như một nhà cung cấp cổ tức vì điều kiện tài chính vững chắc. Verizon cũng là công ty viễn thông lớn nhất ở Hoa Kỳ và hoạt động ở 150 quốc gia.

China Mobile Ltd (CHL), mới hoạt động từ năm 1997, có giá trị vốn hóa thị trường xấp xỉ 185 tỷ USD do sự tăng trưởng trong việc sử dụng điện thoại di động và dịch vụ Internet ở Trung Quốc trong vòng 15 năm qua.

AT&T (T), công ty lâu đời nhất trong lĩnh vực kinh doanh viễn thông, có giá trị thị trường ước tính khoảng 182 tỷ USD. China Mobile đã làm lu mờ AT&T chỉ trong hơn một thập kỷ kinh doanh. Tuy nhiên, Ma Bell trước đây có một phần ba thị phần không dây của Hoa Kỳ và lịch sử 30 năm tăng cổ tức ấn tượng.

Tập đoàn Vodafone (VOD) là công ty viễn thông lớn nhất ở Vương quốc Anh. Họ cung cấp dịch vụ và thiết bị thoại, băng thông rộng, dữ liệu và có giá trị vốn hóa thị trường khoảng 97 tỷ USD.3

Tập đoàn SoftBank của Nhật Bản, cung cấp phần mềm CNTT cũng như các dịch vụ không dây và Internet, 4 có giá trị vốn hóa thị trường hiện tại chỉ hơn 90 tỷ USD.

Thứ hạng thay đổi đáng kể nếu bạn đánh giá về tổng doanh thu bán hàng. Trong khi Verizon, China Mobile và AT&T đều vẫn nằm trong top 5, Verizon tụt xuống thứ 2 sau Nippon Telegraph & Telephone Corporation (NTT) của Nhật Bản, là nhà sản xuất thiết bị viễn thông lớn ngoài việc cung cấp điện thoại cố định, di động và Internet các dịch vụ. Telefonica của Tây Ban Nha (TEF) lọt vào top 5 bảng xếp hạng dựa trên doanh thu.

Verizon cũng là công ty viễn thông lớn nhất ở Hoa Kỳ

Đánh giá các công ty viễn thông

Thật khó để tránh kết luận rằng quy mô quan trọng trong viễn thông. Đó là một công việc kinh doanh tốn kém; các đối thủ cần phải đủ lớn và tạo ra dòng tiền đủ để hấp thụ chi phí của việc mở rộng mạng lưới và dịch vụ đã trở nên lỗi thời dường như chỉ sau một đêm. Hệ thống truyền động cần được thay thế thường xuyên hai năm một lần.

Các công ty lớn sở hữu mạng lưới rộng khắp — đặc biệt là mạng cục bộ trải dài trực tiếp đến nhà khách hàng và doanh nghiệp — ít phụ thuộc hơn vào việc kết nối với các công ty khác để nhận cuộc gọi và dữ liệu đến đích cuối cùng của họ. Ngược lại, những công ty nhỏ hơn phải trả tiền cho việc kết nối thường xuyên hơn để hoàn thành công việc. Đối với các nhà khai thác nhỏ hy vọng một ngày nào đó sẽ phát triển lớn mạnh, những thách thức tài chính của việc theo kịp sự thay đổi công nghệ nhanh chóng và khấu hao thiết bị có thể rất lớn.

Thu nhập có thể là một vấn đề phức tạp khi phân tích các công ty viễn thông. Nhiều công ty có rất ít hoặc không có thu nhập để nói đến. Để đánh giá giá trị của một công ty, các nhà phân tích ngành viễn thông có thể chuyển sang tỷ lệ giá trên doanh số (giá cổ phiếu chia cho doanh số bán hàng). Họ cũng xem xét doanh thu trung bình trên mỗi người dùng (ARPU), cung cấp một thước đo hữu ích về hiệu suất tăng trưởng và tỷ lệ churn, tỷ lệ khách hàng rời đi (có thể là đối với đối thủ cạnh tranh).

Tại Mỹ, đạo luật Viễn thông, được Tổng thống Bill Clinton ký thành luật vào năm 1996, đã được thông qua để kích thích sự cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông của Hoa Kỳ.

Tin tức viễn thông

Các phân khúc chính của ngành viễn thông

Viễn thông đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống hiện đại ngày nay. Những phân khúc chính trong ngành viễn thông là gì?

Lĩnh vực viễn thông bao gồm ba phân ngành cơ bản: thiết bị viễn thông (lớn nhất), dịch vụ viễn thông (lớn thứ hai) và truyền thông không dây (nhỏ nhất).

Các phân đoạn chính trong các phân ngành này bao gồm:

  • Giao tiếp không dây
  • Trang thiết bị liên lạc
  • Hệ thống, các loại sản phẩm viễn thông
  • Vận chuyển đường dài
  • Dịch vụ viễn thông trong nước
  • Dịch vụ viễn thông nước ngoài
  • Các dịch vụ thông tin liên lạc đa dạng khác

Lĩnh vực nhỏ nhất, nhưng phát triển nhanh nhất trong ngành viễn thông là truyền thông không dây. Nguyên nhân dẫn đến điều này đó là ngày càng có nhiều phương pháp truyền thông và điện toán chuyển sang thiết bị di động và công nghệ dựa trên đám mây. Mảng công nghiệp này là nền tảng dự đoán cho sự mở rộng toàn cầu liên tục của lĩnh vực viễn thông. Truyền thông không dây vẫn còn nhiều dư địa để tăng trưởng, ngay cả ở các nước phát triển: Vào năm 2018, Ủy ban Truyền thông Liên bang (FCC) báo cáo rằng khoảng 1/5 dân số nông thôn Mỹ vẫn không có quyền truy cập vào mạng băng thông rộng.

Về tương lai của ngành viễn thông, thách thức lớn nhất của ngành là bắt kịp nhu cầu của mọi người về kết nối dữ liệu nhanh hơn, độ phân giải cao hơn, truyền video nhanh hơn và các ứng dụng đa phương tiện phong phú. Việc đáp ứng nhu cầu của mọi người về kết nối nhanh hơn và tốt hơn khi họ sử dụng và tạo nội dung đòi hỏi chi tiêu vốn đáng kể. Các công ty có thể đáp ứng những nhu cầu này đang phát triển mạnh.

Các phân khúc chính của ngành viễn thông

Các công ty viễn thông kiếm tiền như thế nào?

Viễn thông là một lĩnh vực quan trọng không thể thiếu trong cuộc sống. Đã bao giờ bạn tự hỏi các công ty viễn thông kiếm tiền như thế nào chưa?

Các cuộc gọi điện thoại truyền thống vẫn tiếp tục là công cụ tạo doanh thu lớn nhất trong ngành, nhưng nhờ những tiến bộ trong công nghệ mạng, điều này đang thay đổi.

Viễn thông đang phát triển ít hơn về giọng nói và ngày càng phát triển về video, văn bản và dữ liệu. Truy cập internet tốc độ cao, cung cấp các ứng dụng dữ liệu dựa trên máy tính như dịch vụ thông tin băng thông rộng và giải trí tương tác, đang nhanh chóng ảnh hưởng đến các gia đình và doanh nghiệp trên toàn thế giới. Công nghệ viễn thông băng thông rộng chính, Đường dây thuê bao số (DSL), đã mở ra một kỷ nguyên mới. Sự tăng trưởng nhanh nhất đến từ các dịch vụ được cung cấp qua mạng di động.

Trong tất cả các thị trường khách hàng, thị trường dân cư và doanh nghiệp nhỏ được cho là khó khăn nhất. Với hàng trăm đối thủ cạnh tranh trên thị trường, việc kinh doanh phụ thuộc nhiều vào giá cả. Thành công chủ yếu của các công ty viễn thông dựa vào sức mạnh thương hiệu và đầu tư lớn vào hệ thống thanh toán hiệu quả.

Mặt khác, thị trường doanh nghiệp vẫn là ngành công nghiệp yêu thích. Các khách hàng doanh nghiệp lớn, những người quan tâm chủ yếu đến chất lượng và độ tin cậy của các cuộc gọi điện thoại và phân phối dữ liệu của họ, ít nhạy cảm về giá hơn so với khách hàng dân cư. Ví dụ, các công ty đa quốc gia lớn sẵn sàng chi mạnh cho cơ sở hạ tầng viễn thông để hỗ trợ các hoạt động xa hay các dịch vụ cao cấp.

Các công ty viễn thông kiếm tiền như thế nào?

Các nhà khai thác viễn thông cũng kiếm tiền bằng cách cung cấp kết nối mạng cho các công ty viễn thông khác cần nó và bằng cách bán buôn các mạch cho người dùng mạng nặng như nhà cung cấp dịch vụ internet và các tập đoàn lớn. Các thị trường kết nối và bán buôn ủng hộ những nhà cung cấp có mạng lưới rộng lớn.

Sự phát triển của ngành viễn thông

Ngành công nghiệp viễn thông bắt đầu vào những năm 1830, với việc phát minh ra máy điện báo, thiết bị liên lạc cơ học đầu tiên. Sự ra đời của viễn thông đã giúp rút ngắn thời gian liên lạc từ vài ngày xuống còn vài giờ vì công nghệ di động hiện đại đã rút ngắn khoảng thời gian gửi một lượng lớn dữ liệu từ vài giờ xuống vài giây.

Ngành công nghiệp mở rộng với mỗi phát minh mới trong ngành viễn thông: điện thoại, radio, truyền hình, máy tính, thiết bị di động. Những tiến bộ công nghệ đã thay đổi cách mọi người sống và làm kinh doanh.

Tại một thời điểm, viễn thông cần phải có dây vật lý kết nối nhà và doanh nghiệp. Trong xã hội đương đại, công nghệ đã đi lên di động. Giờ đây, công nghệ kỹ thuật số không dây đang trở thành hình thức truyền thông chính.

Cấu trúc của ngành viễn thông cũng đã thay đổi từ một vài nhà cung cấp lớn sang một hệ thống phi tập trung hơn với quy định giảm và rào cản gia nhập  Các tập đoàn công cộng lớn đóng vai trò là nhà cung cấp dịch vụ, trong khi các công ty nhỏ hơn bán và bảo dưỡng thiết bị, như bộ định tuyến, thiết bị chuyển mạch và cơ sở hạ tầng, cho phép liên lạc này.

Lĩnh vực viễn thông bao gồm các công ty truyền dữ liệu bằng lời nói, giọng nói, âm thanh hoặc video trên toàn cầu. Ngày nay, viễn thông bao gồm ba phân ngành cơ bản: thiết bị viễn thông (lớn nhất), dịch vụ viễn thông (lớn nhất tiếp theo) và truyền thông không dây.

Viễn thông đang phát triển ít hơn về giọng nói và ngày càng về video, văn bản và dữ liệu. Các công ty viễn thông có thể thu hút cả các nhà đầu tư theo định hướng tăng trưởng và thu nhập.

Mặc dù các cổ phiếu riêng lẻ có thể khá biến động, nhưng toàn bộ ngành viễn thông đã có sự tăng trưởng ổn định trong dài hạn, vì viễn thông đã trở thành một ngành công nghiệp cơ bản ngày càng quan trọng, không bị ảnh hưởng bởi các chu kỳ kinh doanh.

Ngành viễn thông đang ngày càng phát triển

Bản chất của ngành công nghiệp viễn thông

Hàng hóa và dịch vụ

Ngành viễn thông cung cấp điện thoại, truyền hình, Internet và các dịch vụ khác cho khách hàng. Ngành công nghiệp này còn cung cấp các phương tiện truyền thông chính cho hầu hết tất cả các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân.

Ngoài việc cung cấp các dịch vụ truyền thống như điện thoại có dây và truyền hình cáp, các công ty viễn thông cũng cung cấp các dịch vụ như điện thoại di động, Internet băng thông rộng và di động, và truyền hình vệ tinh.

Tổ chức công nghiệp

Ngành viễn thông được chia thành bốn lĩnh vực chính: có dây, không dây, vệ tinh và các cơ sở viễn thông khác.

Lĩnh vực lớn nhất của ngành viễn thông tiếp tục được tạo thành từ các nhà mạng viễn thông có dây. Các cơ sở trong lĩnh vực này chủ yếu cung cấp các dịch vụ viễn thông như điện thoại có dây (điện thoại cố định), đường dây thuê bao kỹ thuật số (DSL) Internet và truyền hình cáp và dịch vụ Internet. Các tổ chức này định tuyến TV, thoại, Internet, dữ liệu và các nội dung khác qua mạng lưới dây và cáp và kiểm soát quyền truy cập vào nội dung này. Họ có thể sở hữu và duy trì mạng, chia sẻ mạng với các tổ chức khác hoặc cho thuê dung lượng mạng từ các công ty khác. Tuy nhiên, các cơ sở trong ngành viễn thông không tạo ra nội dung được truyền qua mạng của họ, chẳng hạn như các chương trình TV. Viễn thông có dây cũng bao gồm các nhà phân phối truyền hình vệ tinh trực tiếp đến nhà và một loạt các doanh nghiệp khác.

Các nhà mạng viễn thông không dây cung cấp điện thoại, Internet, dữ liệu và các dịch vụ khác cho khách hàng thông qua việc truyền tín hiệu qua mạng của các tháp radio. Các tín hiệu được truyền qua ăng-ten trực tiếp đến khách hàng, những người sử dụng các thiết bị, như điện thoại di động và máy tính di động, để nhận và gửi thông tin.

Bản chất của ngành công nghiệp viễn thông

Một thành phần lớn của phân khúc công nghiệp này bao gồm các công ty cung cấp dịch vụ điện thoại di động, đã phát triển nhanh chóng trong thập kỷ qua. Một thành phần khác bao gồm các cơ sở cung cấp dịch vụ Internet di động cho các cá nhân có điện thoại di động và máy tính có hỗ trợ Internet.

Các cơ sở viễn thông vệ tinh được tạo thành hầu hết từ các tổ chức chính phủ và tư nhân truyền nhiều loại dữ liệu thông qua các vệ tinh, bao gồm ảnh trái đất, tin nhắn đến và từ các quan chức an toàn công cộng và nhiều thông tin khác. Tuy nhiên, các nhà cung cấp truyền hình vệ tinh trực tiếp đến nhà được phân loại với viễn thông có dây.

Các lĩnh vực khác trong ngành viễn thông bao gồm các đại lý viễn thông, cũng như các nhà khai thác các dịch vụ liên lạc khác, từ các trạm radar đến các mạng vô tuyến được sử dụng bởi các công ty taxi.

VNPT – tập đoàn đi đầu trong lĩnh vực bưu chính viễn thông của Việt Nam

VNPT là tên viết tắt của tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam. Đây là tập đoàn kinh tế nhà nước đứng số 1 Việt Nam về lĩnh vực bưu chính, viễn thông. Tập đoàn được Chính phủ Việt Nam tin tưởng giao cho trọng trách quan trọng là chủ đầu tư và doanh nghiệp được quyền kinh doanh, khai thác và vận hành 02 vệ tinh đầu tiên của Việt Nam là Vinasat-1 và Vinasat-2.

Ngày 09/01/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 06/2006/QĐ-TTg về việc thành lập Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Đến ngày 24/6/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 955/QĐ-TTg, trong đó chuyển đổi hình thức hoạt động của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam thành Công ty trách nhiệm Hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.

 

Có thể nói, VNPT là nhà cung cấp dịch vụ đầu tiên, tiên phong trong việc đặt nền móng cho sự phát triển của ngành Bưu chính, Viễn thông Việt Nam. Bên cạnh đó, tập đoàn cũng đóng một vai trò chủ chốt trong việc góp phần đưa Việt Nam trở thành 1 trong 10 đất nước có tốc độ phát triển trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông nhanh nhất toàn cầu.

Với slogan “VNPT – cuộc sống đích thực”, VNPT luôn luôn nỗ lực hết mình trong việc phát triển các ứng dụng của công nghệ bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin để phục vụ cho người dân Việt Nam những dịch vụ tốt nhất, hướng đến một cuộc sống tốt đẹp. Đặc biệt, thông qua những ứng dụng tiên tiến của công nghệ viễn thông để gắn kết, kết nối và mang mọi người đến gần nhau hơn. Đó cũng là giá trị nhân văn mà VNPT muốn hướng tới.